Omnichain dApps: Một crypto cơ bản mới

>> [English Version]

Omnichain dApps kết nối tất cả các chains và cho phép thực hiện những giao dịch liền mạch giữa chúng. Một nền tảng cơ bản mới cho phép nhà phát triển sử dụng những kiến trúc cách tân vào những ứng dụng mới hoặc đã tồn tại và đơn giản hóa những trải nghiệm của người dùng.

Bối cảnh

Web3 chứa đầy những thuật ngữ kỹ thuật và trong không gian blockchain và khả năng tương tác giữa chúng, điều này cũng không có sự khác biệt. Mục đích của bài viết này là chúng ta làm rõ những nội dung dưới đây:

Tiến hóa của những khả năng blockchain

Trong phần này, chúng ta sẽ giới thiệu ngắn gọn lần lượt những nhà tiên phong trong lĩnh vực blockchain và thực trạng của hệ sinh thái multichain hiện nay. Tham khảo hình 1 bên dưới.

Bitcoin là tiền mã hóa phi tập trung nguyên bản, blockchain tiên phong, một sổ cái công khai, phi tập trung và không cần cấp phép (của một bên thứ 3), được xây dựng dựa trên cơ sở mật mã học. Những sáng tạo cốt lõi trong Bitcoin bao gồm thuật toán chữ ký số theo đường cong elliptic (ECDSA) cho việc tự quản lý tài sản, và sử dụng bằng chứng công việc (Proof-of-Work) để đạt được sự đồng thuận phân tán và duy trì khả năng chống lại các cuộc tấn công mạo nhận (sybil attacks). Ngoài ra Bitcoin giới thiệu ứng dụng quan trọng đầu tiên của công nghệ blockchain là một loại tiền mã hóa có thể giao dịch ngang hàng p2p (peer-to-peer). Mặc dù bị giới hạn về hình thức các tập lệnh mà nó hỗ trợ, nhưng Bitcoin có thế mạnh cho một số ứng dụng đơn giản (nhưng về cơ bản là rất hữu ích) như hoán đổi multi-sig và hoán đổi nguyên tử (atomic swap). Mặc dù Bitcoin không cung cấp nhiều tính năng như các mạng lưới (blockchain) khác, nhưng nó đã trở thành phương tiện lưu trữ giá trị an toàn, phi tập trung và ổn định nhất.

Hình 1

Hình 1

Ethereum được ra đời sau đó để mở rộng phạm vi của blockchain và hỗ trợ khả năng lập trình Turning hoàn chỉnh. Mượn cơ chế đồng thuận Proof-of-Work từ Bitcoin, Ethereum giới thiệu một số đổi mới quan trọng khiến nó trở thành một blockchain công khai có thể lập trình được:

  1. Ethereum được định nghĩa một máy ảo (EVM) cung cấp một môi trường sandbox lập trình Turing-hoàn chỉnh cho các hợp đồng thông minh (smart contracts).
  2. Ethereum sử dụng một hệ thống trên cơ sở các tài khoản bao gồm tài khoản sở hữu bên ngoài (EOA), được kiểm soát bằng một khóa riêng (private key) và các hợp đồng thông minh, hoạt động theo logic của riêng chúng.

“Tính khả dụng của các hợp đồng thông minh khiến Ethereum trở thành blockchain được sử dụng rộng rãi nhất để triển khai các dApp, dàn trải từ các sàn giao dịch, tài chính phái sinh đến cả NFT và games.” ~ Giám đốc sản phẩm tại ZetaChain.

Trong những năm gần đây, chúng ta đã thấy sự gia tăng nhanh chóng của các blockchain L1 (layer 1) mới như Polkadot, Solana, Avalanche và Cosmos, tất cả đều hỗ trợ mật thiết các hợp đồng thông minh với ngôn ngữ Turing-hoàn chỉnh. Mỗi nền tảng đều đưa ra sự cân bằng trong bộ ba blockchain trilemma. Mặc dù ngày càng có nhiều tuỳ chọn trên ứng dụng hơn nhờ multi-chain, nhưng người dùng vẫn bị bỏ rơi với các ứng dụng bị phân mảnh, chia cắt, ở đó họ không thể dễ dàng di chuyển thanh khoản. Điều này là do các blockchain theo thiết kế vốn đã là một hệ thống đóng và rất phức tạp đối với các nhà phát triển khi triển khai và duy trì các ứng dụng giữa chúng với nhau. Các giải pháp hiện tại cho kết nối liên blockchain thường phải chấp nhận sử dụng các cầu nối phức tạp, bị hạn chế và / hoặc kém an toàn. Cầu nối (bridge) và wrapped assets có sự không ổn định hoặc có mô hình tin cậy tập trung, những điều này chúng tôi viết trong chuỗi Tweet ZetaEducation.

Sự xuất hiện của Omnichain dApp cơ bản

Định nghĩa cổ điển về dApp là tập hợp những hợp đồng, có khả năng ghép nối với một giao diện người dùng (frontend) duy nhất, nhưng điều đó đang thay đổi. Các dApps có thể nhỏ như các tiện ích đơn giản hoặc rộng lớn như các tổ chức và doanh nghiệp phức tạp. Chúng ta phải mở rộng quan niệm của mình về dApp là gì và cách xây dựng nó như thế nào. Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét sự khác nhau giữa việc xây dựng dApp truyền thống và việc xây dựng odApp.

Những nỗ lực trước đây để tạo ra một ứng dụng trải rộng trên nhiều chains khác nhau đã xuất hiện sự bùng nổ của các L1 và L2s mới. Nói chung, cùng một hợp đồng được triển khai trên nhiều chains khác nhau và sau đó một giao diện người dùng (frontend) được tạo ra để kết nối với những hợp đồng tương ứng của mỗi mạng (Hình 2). Mặc dù các bạn thấy cách tiếp cận này cung cấp các mạng khác nhau, nhưng các ví (wallet) của người dùng, các hợp đồng (contract) hoặc network không thực sự trải rộng trên các chains. Trải nghiệm này gần giống như có một ứng dụng mà người dùng có bốn lần đăng nhập (hoặc mặc dù họ có nhiều ví!).